|
Nếu gắn bó với Giáo Hội nói chung và vị chủ chiên
tối cao, vị thừa kế Thánh Phêrô (Successor of
Peter), và đồng thời cũng là vị đại diện Chúa Kitô
(Vicar of Christ), trên trần gian ở từng thời đại
của ḿnh, chúng ta sẽ thấy được vị thế Giáo Hội đang
đứng ở đâu và chiều hướng Giáo Hội đang đi về đâu
trong gịng lịch sử của thế giới loài người, nhất là
vào giai đoạn lịch sử đầy những biến đổi và
biến động chưa từng thấy sau hai Thế Chiến I (1914 -
1918) và Thế Chiến II (1939 - 1945).
Giáo Hội đang đứng
ở đâu và đang đi về đâu?
Thật vậy, là Kitô hữu, một chi thể của Nhiệm Thể
Chúa Kitô là Giáo Hội, chúng ta không thể lơ là với
Giáo Hội của ḿnh, với gia đ́nh của ḿnh, đến độ
chẳng biết chuyện ǵ xẩy ra trong nhà của ḿnh, hay
biết chỉ biết lơ mơ, v́ không trực tiếp theo dơi, mà
chỉ qua truyền thông, báo chí, phát thanh, phát
h́nh, youtube, email, text v.v., thậm chí c̣n dễ
chiều theo những tuyên truyền cực đoan hợp với chủ
trương duy truyền thống hay duy cấp tiến của
ḿnh, đến độ c̣n tiếp tay tuyên truyền và công khai
hợp sức chống phá vị đương kim giáo hoàng của ḿnh,
nấp dưới chiêu bài có vẻ thật là chính đáng đó là để
bênh vực Giáo Hội Chúa Kitô.
Như thể, bất cứ vị giáo hoàng nào cũng phải hợp với
ư nghĩ thiển cận và ư thích chủ quan của ḿnh mới là
giáo hoàng thật, bằng không, tất cả chỉ là giáo
hoàng giả, tức là giáo hoàng nào cũng phải được họ
chỉ định mới thành và mới thật, chứ không phải được
mật nghị hồng y bầu lên, và dù có được bầu theo đúng
qui định của Giáo Hội, cũng bị họ công khai và trắng
trợn truất phế, nếu vị giáo hoàng nào đó không chịu
tuân theo đúng chủ trương "Công giáo" chính
qui, chính cống, chính xác, chính trực của họ v.v.
Thế nhưng, bất chấp quyền lực của hỏa ngục đang hung
dữ và dữ dội tấn công Giáo Hội chưa từng có, nhất là
trong thời đại tân tiến ngày nay, nhất là từ sau 2
Thế Chiến I và II vào tiến bán Thế Kỷ 20, một cuộc
tấn công gọng ḱm, cả từ bên ngoài, bằng các phương
tiện truyền thông đại chúng đă trở nên quá thông
dụng và nhanh chóng, lẫn từ bên trong ḷng Giáo Hội,
bởi chính phần tử của Giáo Hội, đặc biệt là thành
phần chức phẩm và trí thức, chúng vẫn chẳng những
không thể nào làm ǵ được Giáo Hội, trái lại, chúng
c̣n vô t́nh góp phần giúp cho Giáo Hội càng trở
thành dấu chỉ thời đại rạng ngời hơn bao giờ hết,
cho thấy Chúa Kitô thực sự đang ở cùng Giáo Hội
cho đến tận thế (x. Mathêu 28:20).
Đúng thế, lịch sử thế giới gắn liền với lịch sử của
Giáo Hội, hay ngược lại cũng vậy, nếu không muốn
nói, một cách chính xác hơn, thế giới lệ thuộc vào
Giáo Hội, như thân xác với linh hồn, và Giáo Hội cần
phải làm sao để chi phối thế giới và làm chủ thế
giới, bằng thẩm quyền thiêng liêng của ḿnh.
Không phải chỉ ở những lần vị giáo hoàng đóng vai
lương tâm cố vấn cho các chính trị gia trên thế giới
t́m đến triều kiến ngài, hay ở vai tṛ làm cố vấn
cho cơ quan Liên Hiệp Quốc, thay v́ là một thành
viên chính thức của cơ quan quốc tế này, có quyền bỏ
phiếu quyết nghị như các quốc gia thành viên khác,
dù hội đủ tư cách là một Quốc Đô Vatican - The
Vatican State, mà là bằng chính tinh thần chứng nhân
trung thực và sống động của ḿnh, tức là bằng "đức
tin tỏ hiện qua đức ái" (Galata 5:6).
"Hồn ở trong xác thế nào, th́ các Ki-tô hữu
sống giữa thế gian cũng thế. Linh hồn ở khắp các chi
thể thế nào th́ các Ki-tô hữu
cũng ở mọi thành thị trên thế giới như vậy. Linh hồn
ở trong thân xác nhưng không do thân xác, th́ các
tín hữu cũng ở trong thế gian nhưng không bởi thế
gian. Linh hồn vô h́nh được ǵn giữ trong thân xác
hữu h́nh, th́ người ta nh́n thấy các Ki-tô hữu
sống trong thế gian, nhưng không thấy ḷng đạo đức
của họ. Xác thịt thù ghét và gây chiến với linh hồn,
dù linh hồn không làm hại ǵ cho xác thịt, mà chỉ
ngăn không cho nó hưởng lạc thú ; thế gian cũng ghét
các Ki-tô hữu
như vậy, dù họ không gây thiệt hại ǵ cho nó, mà chỉ
chống lại các lạc thú. Linh
hồn yêu thân xác, nhưng thân xác và các chi thể lại
ghét linh hồn ; các Ki-tô hữu cũng yêu những kẻ ghét
ḿnh.
"Linh hồn bị giam giữ trong thân xác, nhưng thật
ra chính linh hồn lại chứa đựng thân xác; các Ki-tô
hữu cũng bị giam giữ trong thế gian như trong tù,
nhưng chính họ lại chứa đựng thế gian. Linh hồn bất
tử ở trong nhà tạm phải chết; các Ki-tô hữu sống
giữa những thực tại hay hư nát như khách lữ hành,
đang khi đợi chờ sự bất hoại trên thiên quốc. Nhờ ăn
uống kham khổ, linh hồn nên tốt hơn; nhờ chịu cực
h́nh, các Ki-tô hữu ngày thêm đông số. Thiên Chúa đă
đặt họ vào t́nh trạng như thế, th́ họ không nên trốn
tránh". (Phụng
Vụ Kinh Sách Thứ Tư Tuần V Phục Sinh / From
a letter to Diognetus Nn. 5-6; Funk, 397-401)
Nếu lật lại lịch sử, qua các giáo triều của những vị
giáo hoàng từ Công Đồng Chung Vaticano II
(11/10/1962 - 8/12/1965) đến nay, chúng ta có thể
thấy được Giáo Hội đang đứng ở đâu và đang đi về
đâu?
Giáo Hội đang đứng ở đâu?
Căn cứ vào giáo huấn của Công
Đồng Chung Vaticano II,
công đồng chung thứ 21 của Giáo Hội, nhất là vào 2/4
Hiến Chế chính yếu của về Giáo Hội, một liên quan
đến tín lư về Giáo Hội là "Ánh Sáng Chư Dân - Lumen Gentium" và một liên quan đến mục vụ của Giáo Hội là "Vui Mừng và Hy Vọng - Gauidium et Spes" th́ Giáo Hội đang ở trong thế giới ngày nay, như Ánh Sáng
Chư Dân, để mang Vui Mừng và Hy Vọng đến cho nhân
loại càng ngày càng văn minh tân tiến hơn, về cả
khoa học lẫn kỹ thuật, và càng ngày càng văn hóa
nhân bản hơn, về cả tự do lẫn nhân quyền. V́ Giáo
Hội cảm thấy ḿnh bất khả phân ly với thế giới nhân
loại, trái lại, phải ḥa đồng nên một với thế giới,
theo chiều hướng Nhập Thể của Thiên Chúa, sống như
con người, để cứu độ con người. Đó là lư do, Giáo
Hội đă công khai bày tỏ mối liên hệ mật thiết giữa
Giáo Hội với thế giới loài người như sau:
"Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con
người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai
đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo
lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có ǵ thực
sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong
ḷng họ. Thực vậy, cộng đoàn của họ được cấu tạo
bằng những con người đă được qui tụ trong Chúa Kitô,
được Chúa Thánh Thần hướng dẫn trong cuộc lữ hành về
Nước Cha và đă đón nhận tin mừng cứu rỗi đem tới cho
mọi người. V́ thế, cộng đoàn ấy mới nhận thấy ḿnh
thực sự liên hệ mật thiết với loài người và lịch sử
nhân loại" (Hiến Chế Gaudium et Spes, 1).

Giáo Hội đang đi về đâu?
Nếu Giáo Hội đang đứng ở
đâu là do chính toàn thể Giáo Hội, qua hàng giáo
phẩm hoàn vũ của Giáo Hội, nơi Công Đồng Chung
Vaticano II, xác định vị trí của Giáo Hội, th́ Giáo
Hội đang đi về đâu lại diễn tiến theo từng giáo
triều của các vị giáo hoàng thời đại từ đó đến nay.
Không cần phân tích dài ḍng thêm phức tạp và khó
nắm bắt, theo người viết th́ chúng ta chỉ cần nhắm
vào một sự kiện nào nổi bật nhất trong từng thời
giáo hoàng là thấy ngay, sau đó liên kết lại với
nhau là thấy ngay chiều hướng Giáo Hội đang đi về
đâu để cùng Giáo Hội theo đuổi thôi.

Thánh
Giáo Hoàng Gioan XXIII (5 năm:
28/10/1958 - 3/6/1963)
Vị giáo hoàng thứ 261 kế vị Thánh Phêrô, vị
giáo hoàng khởi động chính Công Đồng Chung
Vaticanô II, chủ trương cởi mở với thế giới,
như công đồng ngài triệu tập đă khai triển
theo cùng chiều hướng của ngài.
Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI (15 năm:
21/6/1963 - 6/8/1978)
Vị giáo hoàng thứ 262, v́ giáo hoàng chủ sự
Công Đồng Chung Vaticano II kể như hầu hết
công đồng này, vị giáo hoàng đầu tiên bắt
đầu đích thân đi sâu vào ḷng thế giới, bằng
các chuyến tông du của ḿnh, và chuyến đầu
tiên đến với thế giới Ấn giáo ở Ấn Độ cuối
năm 1964 (2-5/12). Ngài đă áp dụng tinh thần
cởi mở và vào đời của chung công đồng, theo
gợi ư của riêng vị tiền nhiệm Gioan XXIII.
Trong giáo triều 15 năm của ngài, có nhiều
việc canh tân Giáo Hội, điển h́nh nhất là
việc ngài thiết lập Thượng Nghị Giám Mục Thế
Giới ngày 15/9/1965, trước khi công đồng bế
mạc gần 3 tháng. Trong 7 Bức Thông Điệp của
ngài, có 3 thông điệp nổi tiếng: Thông Điệp
đầu tiên là Giáo Hội của Người - Ecclesiam
Suam (6/8/1964), Thông điệp thứ 5 là Phát
Triển Các Dân Tộc - Populorum Progresso
(26/3/1967), và Thông điệp thứ 7 là Sự Sống
Con Người - Humanae Vitae (25/7/1978). Vị
giáo hoàng này đă mở Năm Đức Tin
(1967-1968), lần đầu tiên trong Giáo Hội, để
mừng kỷ niệm 1900 năm Hai Thánh Tông Đồ
Phêrô và Phaolô Tử Đạo ở Roma, đồng thời
cũng để chấn chỉnh cuộc khủng hoảng đức tin
ngay sau công đồng chung.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô I (33
ngày: 26/8/1978 - 28/9/1978)
Vị giáo hoàng thứ 263 kế vị Thánh Phêrô, chỉ
phục vụ Giáo Hội duy có 33 ngày ngắn ngủi,
như thể đóng vai tṛ chuyển tiếp cho vị giáo
hoàng lấy cùng tông hiệu Gioan Phaolô như
ngài.
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II (26
năm: 16/10/1978 - 2/4/2005)
Vị giáo hoàng thứ 264 kế vị Thánh Phêrô,
phục vụ Giáo Hội dài thứ 3 trong lịch sử
Giáo Hội, với 26 năm rưỡi, vị giáo hoàng
ngoài Ư quốc sau 355 năm, mở màn cho 2 vị kế
nhiệm cũng ngoài Ư quốc, theo chiều hướng
Giáo Hội trong thế giới ngày nay của chính
công đồng chung Vaticanô II, một chiều hướng
bao gồm các quốc gia khác ngoài Ư quốc. Ngài
là vị giáo hoàng tông du nhiều nhất, 104
chuyến. Ngài là vị giáo hoàng triết gia nhân
bản, tranh đấu cho nhân quyền, bắt đầu từ
chính quê hương Balan của ngài vào 6/1979.
Thành quả về lịch sử trần thế liên quan đến
việc can thiệp theo thẩm quyền giáo hoàng
của ngài, cũng như liên quan đến việc can
thiệp của Trời Cao nơi vai tṛ giáo hoàng
của ngài, từ Thánh Mẫu Fatima ở Bồ Đào Nha
cũng như từ Ḷng Thương Xót Chúa ở Balan, đó
là biến cố Đông Âu sụp đổ bất ngờ, toàn toàn
bất bạo động đúng như chủ trương của Giáo
Hội, vào cuối năm 1989, bắt đầu từ Balan,
sau đó là biến cố Nước Nga Trở Lại ngày
25/12/1991.
Biến cố nổi bật nhất trong nội bộ Giáo Hội
của ngài nói riêng và trong thế giới Kitô
giáo nói chung, đó là Đại Năm Thánh 2000,
một Đại Năm Thánh đă được ngài long trọng cử
hành chưa từng thấy trong Giáo Hội, với 2
giai đoạn sửa soạn, mỗi giai đoạn 3 năm:
giai đoạn sửa soạn xa (1994-1997) và giai
đoạn sửa soạn gần (1997-1999): Năm 1997 dâng
kính Chúa Kitô, Năm 1998 dang kính Chúa
Thánh Thần, và Năm 1999 dâng kính Chúa Cha.
Để bế mạc Đại Năm Thánh 2000 này, ngài đă
ban hành Tông Thư "Ra Chỗ Nước Sâu - Duc in
Altum", nhấn mạnh đến cả hai chiều kích
truyền giáo và nội tâm, v́ chỉ có sống nội
tâm sâu xa thân mật với Chúa, bằng đức tin
và cầu nguyện, mới có thể bắt được nhiều cá
trong sứ vụ truyền giáo mà thôi. Đó là lư
do, trong những năm cuối đời của ḿnh, ngài
đă mở những năm về cầu nguyện, như Năm Mân
Côi 2002-2003, Năm Thánh Thể 2004-2005, và
loạt bài giáo lư cho buổi triều kiến chung
Thứ Tư hằng tuần của ngài về Thánh Vịnh, một
loạt bài giáo lư c̣n đang dang dở và đă được
hoàn tất bởi vị kế nhiệm.
Đức Giáo
Hoàng Biển Đức XVI (8 năm: 19/4/2005
- 28/2/2013)
Vị giáo hoàng thứ 265 kế vị thánh Phêrô, vị
giáo hoàng thần học gia về Thánh Kinh, với
bộ tác phẩm 3 cuốn là "Giêsu Nazarét" nổi
tiếng, một bộ tác phẩm 2 cuốn mà ngài đă
phải ḅn từng giây từng phút để viết dọc
suốt giáo triều của ngài, kẻo không kịp theo
tuổi già sức yếu của ngài, được xuất bản vào
năm 2007 (tập 1), 2011 (tập 2) và 2012 (tập
3). Trong giáo triều 8 năm của ngài, để giải
quyết cuộc khủng hoảng đức tin trong Giáo
Hội, ngài đă mở Năm Đức Tin (2012-2013), và
ngài đang biên soạn 1 Thông Điệp về đức tin,
trong bộ 4 thông điệp về 3 thần đức tin cậy
mến Chúa yêu người, theo chiều hướng "ra chỗ
nước sâu" của vị tiền nhiệm Gioan Phaolô II:
Thông điệp đầu tay là "Thiên Chúa là t́nh
yêu - Deo Caritas est", Thông điệp thứ hai
là "Niềm Hy Vọng Cứu Độ - Spe Salvi" (2005),
Thông điệp thứ 3 là "Yêu Thương trong Chân
Lư -Caritas in Veritate" (2007), Thông điệp
thứ 4 là "Ánh Sáng Đức Tin - Lumen Fidei"
(2013), bức thông điệp cuối cùng cho và
trong Năm Đức Tin của ngài, thế nhưng lại
được hoàn tất bởi vị giáo hoàng kế nhiệm
Phanxicô sau khi ngài bất ngờ thoái vị vào
cuối tháng 2/2013.
Ngoài ra, trong giáo triều của vị nguyên
tổng trưởng Thánh Bộ Tín Lư Đức Tin thâm
niên (1981-2005), hầu như suốt giáo triều
của vị giáo hoàng tiền nhiệm Gioan Phaolô
II, ngài c̣n thực hiện một việc liên quan
đến đức tin của nội bộ Kitô giáo nữa, đó là
thiết lập Hội Đồng Tân Truyền Bá Phúc Âm
Hóa, vào năm 2010, một cơ quan lo việc tái
Phúc Âm hóa ở những đất nước đă từng được
gieo văi đức tin, nhất là ở thế giới Kitô
giáo Tây phương, đặc biệt là châu lục vốn
được gọi là cái nôi của Kitô giáo là Âu
Châu, mà nay đă và đang sống phản đức tin
hay mất đức tin.
Đức Giáo Hoàng Phanxicô (13/3/2013
- ?):
Vị giáo hoàng thứ 266 kế vị Thánh Phêrô, vị
giáo hoàng lấy tông hiệu Phanxicô, vị thánh
sáng lập Anh Em Hèn Mọn ở Ư quốc và vào thời
trung cổ, một vị thánh sống tinh thần nghèo
khó tuyệt đối sát nghĩa Phúc Âm nhất, được
Chúa sai đi "xây lại nhà" của Ngài là Giáo
Hội bấy giờ, một vị giáo hoàng nổi bật về
ḷng thương xót và mục vụ đối với người
nghèo, luôn luôn đề cao người nghèo và bênh
vực người nghèo, vị giáo hoàng chủ trương
"một Giáo Hội nghèo và cho người nghèo"
(Tông Huấn Niềm vui Phúc Âm - 198).
Ngài chủ trương, từ thời vị tiền nhiệm Gioan
Phaolô II đến thời của ngài là thời điểm
thương xót, như ngài khẳng định với hàng
giáo sĩ Roma ngày 6/3/2014, và v́ thế, Giáo
Hội chẳng những cởi mở mà c̣n phải xông pha,
như một bệnh viện lưu động hay bệnh việc dă
chiến, để có mặt tại chỗ hay để đi thật xa,
đến tận những vùng biên về cả địa lư lẫn
nhân bản, để phục vụ và cứu chữa anh chị em
ḿnh đang bị đầy những thương tích về cả thể
lư, tâm lư, luân lư và đạo lư. Biến cố nổi
bật nhất trong giáo triều của ngài, có thể
là suốt cả giáo triều của ngài nữa, dù không
biết giáo triều của ngài kéo dài bao nhiêu
năm, đó là biến cố ngài mở Năm Thánh 2016
ngoại lệ về Ḷng Thương Xót, một Năm Thánh
chưa từng có trong lịch sử Giáo Hội, và
thiết lập Ngày Thế Giới Người Nghèo, vào
Chúa Nhật 33 thường Niên hằng năm.
Giáo Hội đang đi ra
chỗ nước sâu!
Như thế, nh́n chung,
căn cứ vào những điểm chính yếu của từng
giáo triều giáo hoàng từ Công Đồng Chung Vaticano II tới nay, chúng ta có thể mau chóng thấy ngay được
vấn đề Giáo Hội đang đi về đâu là như thế
này: Giáo
Hội đang đi ra chỗ nước sâu! Ở chỗ vừa truyền giáo vừa sống nội tâm: "Giáo Hội đang đi ra" đây là đang thực thi sứ vụ truyền giáo đặc biệt đối
với người nghèo, và "chỗ nước sâu"
đây là chính ḷng thương xót, v́ chỉ có ḷng
thương xót mới có thể qui tụ hay thu hút được nhiều cá, nhờ đó mới bắt được
nhiều cá mà thôi.
Đúng vậy, ḷng thương
xót chính là nội tâm,
là chỗ nước sâu của
Giáo Hội, một Giáo Hội gắn bó thân mật với
Chúa Kitô, như cành nho dính liền
với cây nho để nhờ đó sinh muôn vàn hoa trái
(xem Gioan 15:1-2,4), nhờ đó mới phản ảnh
Chúa Kitô. Nếu "đức tin tỏ hiện qua đức ái"
(Galata 5:6), th́ ḷng thương xót, tột đỉnh
của đức ái trọn hảo, là hoa trái của đức tin
chân chính, một đức tin đầy quyền lực, chẳng
những qua các
hoạt động bác ái xă hội, mà c̣n qua cả
việc âm thầm nguyện cầu và chuyển cầu nữa.
Theo
chiều hướng Giáo Hội đang đi ra chỗ nước sâu
như vậy, chúng ta nên cùng nhau ôn lại những
giáo huấn của 3 vị giáo hoàng gần chúng ta
nhất, hậu công đồng chung Vaticano II: đó là
Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Đức Giáo
Hoàng Biển đức XVI và Đức Giáo Hoàng
Phanxicô, những giáo huấn về 2 chiều kích
đức tin và cầu nguyện, những bài giáo lư về đức tin và cầu
nguyện này lại là hai loạt bài giáo lư móc
nối giữa 3 giáo triều cuối này lại với nhau:
1- Loạt bài giáo lư về cầu nguyện, bằng các
Thánh Vịnh, được bắt đầu từ giáo triều Thánh Giáo
Hoàng Gioan Phaolô II (28/3/2001 - 131 bài),
nhưng được tiếp nối và kết thúc ở giáo triều
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI (15/2/2006 - 35
bài, tất cả là 166 bài, tuy nhiên, như ĐTC
Biển Đức XVI cho biết, ngài chỉ đọc lại các
bài Giáo Lư về Thánh Vịnh này của vị tiền
nhiệm thôi, và khi cần ngài thêm vào đó
những lời dẫn giải thôi), và
2- Loạt
bài giáo lư về đức tin, dựa theo Kinh Tin
Kính, được bắt đầu từ giáo triều Đức Thánh Cha
Biển Đức XVI (18/10/2012 - 13 bài), và được
tiếp nối và kết thúc ở giáo triều Đức Thánh
Cha Phanxicô (11/12/2013 - 25 bài, tất cả là
38 bài về đức tin nơi Kinh Tin Kính).
Bắt đầu từ Thứ Tư tuần này, mùng 8 tháng 7
năm 2020, ngày trong tuần vốn có buổi triều kiến
chung (general audience), được các vị giáo
hoàng lợi dụng để hướng dẫn giáo lư cho cộng
đồng dân Chúa, nhất là trong Tháng 7 là
tháng nghỉ hè, không có các bài giáo lư hằng
tuần, chúng ta bắt đầu ôn lại hằng ngày loạt
bài giáo lư về đức tin và giáo lư về cầu
nguyện, nhờ đó, chúng ta mới có thể theo đúng
chiều hướng Giáo Hội đang đi, đó là hướng Giáo Hội đang đi ra chỗ nước sâu!
Đaminh Maria cao tấn tĩnh, BVL
Lễ Thánh Maria Goretti, 6/7/2020
|